1. Tên tiến bộ kỹ thuật
Kỹ thuật nhân giống bằng hạt cây Gụ lau (Sindora tonkinensis A. Chev. ex K.& S. S. Larsen).
2. Tác giả
Nhóm tác giả của tiến bộ kỹ thuật: TS. Vũ Đức Bình, TS. Phạm Xuân Đỉnh, ThS. Nguyễn Thị Thanh Nga, ThS. Nguyễn Hải Thành, TS. Nguyễn Thị Liệu, TS. Nguyễn Tiến Linh, TS. Đỗ Hữu Sơn, TS. Lê Xuân Toàn, ThS. Lê Công Định, TS. Phạm Tiến Hùng, ThS. Nguyễn Thị Kim Vui, ThS. Hà Văn Thiện.
Tổ chức có tiến bộ kỹ thuật được công nhận: Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
Địa chỉ: Số 46 đường Đức Thắng, Phường Đông Ngạc – Thành phố Hà Nội Điện thoại: 024.3838.9031 Fax: 024.3838.9722
E-mail: vkhln@vafs.gov.vn Website: http://vafs.gov.vn
3. Xuất xứ của tiến bộ kỹ thuật
Tiến bộ kỹ thuật là kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ quỹ gen cấp quốc gia: Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen cây Gụ lau (Sindora tonkinensis A. Chev. ex K. & S. S. Larsen) tại một số tỉnh duyên hải miền Trung”, mã số NVQG- 2023/ĐT.07, do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam chủ trì, Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ thực hiện trong thời gian từ tháng 3 năm 2023 đến tháng 12 năm 2025.
4. Tóm tắt nội dung của tiến bộ kỹ thuật
4.1. Nội dung của tiến bộ kỹ thuật
4.1.1. Những điểm mới trong kỹ thuật nhân giống bằng hạt cây Gụ lau
a. Xử lý hạt giống: Hạt giống Gụ lau được mài một phần vỏ hạt và được ngâm trong nước có nhiệt độ ban đầu là 550C trong thời gian 12 giờ, sau đó hạt giống được vớt ra để ráo nước trước khi đem
b. Thành phần ruột bầu tính theo thể tích gồm: 89% đất mặt + 10% phân chuồng hoai + 1% NPK (5:10:3).
c. Cấy cây con vào bầu: Sử dụng các cây mạ 25 ngày tuổi kể từ khi gieo hạt (có từ 2 lá mầm trở lên; cao từ 5 đến 7 cm) để cấy vào bầu.
d. Liều lượng bón thúc: Bón thúc phân vào các thời điểm cây con được 3 tháng tuổi, 6 tháng tuổi và 9 tháng tuổi với nồng độ bón 1% phân NPK (5:10:3), lượng tưới 2,5 lít/100 bầu (hòa 25 g phân NPK với 2,5 lít nước sạch, tưới cho 100 bầu), sau khi tưới phân cần tưới nước sạch để rửa lá.
4.1.2.2. Mô tả chi tiết các khâu trong quy trình
a) Chọn nguồn giống để thu hái quả:
Nguồn giống có nguồn gốc rõ ràng, được chọn lọc theo TCVN 8755:2024 (Giống cây lâm nghiệp – Cây trội) áp dụng cho loài cây lấy gỗ.
b) Thu hái quả:
Thời gian quả chín: Ở vùng duyên hải miền Trung, quả Gụ lau thường chín rải rác từ tháng 7 đến tháng 10 dương lịch hằng năm, thu hái quả vào thời điểm chín rộ tháng 8 đến đầu tháng 9 khi vỏ quả có màu xám nâu hoặc cánh dán.
Phương pháp thu quả: Hái quả bằng cách sử dụng sào có câu liêm để giật từng chùm quả hoặc có thể thu quả bằng cách để quả rụng xuống mặt đất và tiến hành nhặt quả. Không được chặt cây hoặc cành để thu quả.
1 kg quả trung bình có từ 94 đến 117 quả, mỗi quả có từ 1 đến 5 hạt. Kích thước quả có chiều dài từ 3,9 – 10,9 cm; chiều rộng từ 2,7 – 8,1 cm; chiều dày từ 1,0 – 2,1 cm.
c) Chế biến hạt giống:
Quả thu hái về cần được loại bỏ tạp vật, những quả nhỏ, quả xanh, sau đó được ủ thành từng đống (không quá 30 cm) trong 2 – 3 ngày ở nơi thoáng gió cho chín đều, mỗi ngày đảo lại một lần.
Khi quả chín, đem phơi nắng tự nhiên để tách hạt, sau khi thu được hạt tiếp tục loại bỏ hạt nhỏ, hạt xấu.
1 kg hạt thuần có khoảng 500 hạt đến 516 hạt. Kích thước hạt dao động, dài từ 2,2 cm đến 3,5 cm; rộng từ 1,6 cm đến 2,3 cm; dày từ 0,7 cm- 1,9 cm.
- Chất lượng hạt giống: Độ thuần tối thiểu 95%; Khối lượng 1000 hạt tối thiểu 1960 g; Tỷ lệ nảy mầm tối thiểu 80%. Hạt giống không bị nấm mốc, có kích thước và màu sắc đồng đều, màu đen bóng.
d) Bảo quản hạt:
Hạt sau khi được chế biến nếu chưa gieo ươm ngay thì cần được bảo quản. Hạt được bảo quản trong chum, vại, sành để nơi khô ráo; bằng phương pháp này có thể duy trì sức sống của hạt tới 2 năm.
e) Chọn địa điểm lập vườn ươm:
Chọn lập vườn ươm đảm bảo theo yêu cầu TCVN 13359:2021 – Giống cây lâm nghiệp – Vườn ươm cây lâm nghiệp, trong đó cần thuận lợi về giao thông, độ dốc không quá 5o, không bị ngập úng, sau cơn mưa nước tiêu thoát ngay; xa các nguồn sâu bệnh hại và các nguồn độc hại khác; có nguồn nước ngọt sạch để tưới đầy đủ, ổn định.
f. Thời vụ gieo hạt: Từ tháng 7 – 10 dương lịch hằng năm.
g) Xử lý hạt trước khi gieo:
Hạt được mài một phần vỏ hạt bằng cách dùng giấy nhám mài nhẹ vào cạnh bên hoặc đầu đối diện rốn hạt, mài từ từ đến khi lớp vỏ đen bên ngoài lộ ra phần nội nhũ màu vàng thì dừng lại. Hạt trước khi gieo được xử lý bằng cách ngâm hạt trong nước có nhiệt độ ban đầu là 550C trong thời gian 12 giờ, vớt hạt ra để ráo nước và loại bỏ cuống rốn. Sau đó, ngâm trong dung dịch thuốc chống nấm Mexyl Mz 72WP nồng độ 0,3% (3g/1 lít nước) trong 15 phút, vớt ra rửa sạch, để ráo rồi đem gieo. Tỷ lệ nảy mầm đạt khoảng 94,0% sau 22 ngày. Ngoài ra, có thể xử lý hạt chưa mài trong nước có nhiệt độ ban đầu 1000C trong thời gian 8 giờ cho tỷ lệ nảy mầm đạt khoảng 87,7% sau 25 ngày.
h) Gieo hạt:
- Giá thể gieo hạt: Sử dụng cát vàng đã được rửa sạch và xử lý bằng thuốc chống nấm Mexyl Mz 72WP nồng độ 0,3% với liều lượng 2 lít/m2hoặc dùng các loại thuốc phòng bệnh được cấp phép của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Luống cát gieo hạt rộng 1,0 m đến 1,2 m, dài 5 m đến 10 m, dày 5 cm đến 10 cm tùy thuộc địa hình và lượng hạt cần gieo. Rải đều hạt trên luống cát, sau đó lấp cát phủ kín hạt với độ dày 1,5 cm đến 2,0 cm. Một kg hạt thường gieo trên diện tích 8 m2 đến 10 m2.
- Làm giàn che sáng: Khung giàn che được làm bằng tre, gỗ hoặc thép, cao từ 2,0 m đến 2,5 m kể từ mặt luống, sử dụng lưới nilon đen che 50% ánh sáng trực xạ.
- Chăm sóc hạt sau khi gieo: Hàng ngày tưới nước đủ ẩm cho hạt vào các buổi sáng sớm hoặc chiều muộn, thường xuyên nhặt cỏ dại. Hạt bắt đầu nảy mầm sau 6 đến 7 ngày kể từ khi gieo hạt.
i) Tạo bầu:
- Kích thước túi bầu: Sử dụng loại túi bầu Polyetylen hoặc loại vỏ bầu tự hoại có kích thước tối thiểu 12 x 15 cm, bầu có đáy hoặc không có đáy. Nếu có đáy thì cắt góc hoặc đục từ 4 – 6 lỗ xung quanh gần đáy để thoát nước.
- Thành phần ruột bầu tính theo thể tích gồm: 89% đất mặt + 10% phân chuồng hoai + 1% NPK (5:10:3).
- Xếp bầu: Bầu sau khi đóng xong được xếp thành từng luống rộng 1,0 – 1,2 m, dài 5 – 10 m, rãnh luống rộng từ 40 đến 50 cm, lấp chân bầu bằng đất bột với chiều cao đến 2/3 thân bầu.
- Thời gian tạo bầu trước khi cấy cây mầm từ 7 đến 10 ngày.
j) Cấy cây mầm vào bầu:
- Thời gian cấy cây vào bầu: Sử dụng cây mạ khoảng 25 ngày tuổi kể từ ngày gieo hạt, cây có từ 2 lá mầm, cao khoảng 5 đến 7 cm để cấy vào bầu.
- Xử lý hỗn hợp ruột bầu trước khi cấy: Trước khi cấy cây mầm vào bầu, phun thuốc chống nấm Mexyl Mz 72WP nồng độ 0,3% (3g/1 lít nước tưới lên bầu đất) với liều lượng 2 lít/m2hoặc dùng các loại thuốc nấm được cấp phép của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Cấy cây mầm: Chọn những cây khỏe mạnh, đủ tiêu chuẩn, dùng que tạo một lỗ chính giữa bầu, đặt cây ngay ngắn và ép nhẹ hai bên gốc cây mầm, mỗi bầu cấy 1 cây, cấy xong đến đâu tưới ẩm đến đó.
- Thời điểm cấy: Nên chọn những ngày râm mát để cấy cây, tốt nhất vào buổi chiều. Trước khi cấy cây 1 ngày cần tưới nước đủ ẩm luống bầu. Cây mầm bứng tới đâu cấy tới đó không để đến ngày hôm
k) Chăm sóc cây con:
- Cấy dặm: Sau khi cấy 5 – 10 ngày, kiểm tra và cấy dặm những cây bị chết.
- Tưới nước: Thường xuyên tưới nước đủ ẩm cho luống cây với tần suất 2 lần vào buổi sáng sớm và chiều muộn, lượng tưới 3 – 4 lít/m2(trừ các ngày mưa) nhưng không để úng nước. Khi cây còn nhỏ trung bình tưới 1 ngày/lần, sau đó có thể giảm xuống 2 – 3 ngày tưới/lần với lượng tưới như trên.
- Làm cỏ, phá váng: Theo dõi quá trình sinh trưởng của cây con trong vườn ươm, định kỳ 15 đến 20 ngày tiến hành nhổ cỏ, phá váng 1 lần.
- Bón thúc: Bón thúc 3 lần bằng cách hòa tan 25 g phân NPK với 2,5 lít nước sạch, tưới cho 100 bầu; lần 1 sau khi cấy được 3 tháng, lần 2 sau khi cấy 6 tháng và lần 3 sau khi cấy được 9 tháng. Thời điểm tưới vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát. Sau mỗi lần bón thúc tiến hành tưới rửa lá bằng nước sạch.
- Điều chỉnh giàn che: dỡ bỏ toàn bộ giàn che sau 6 tháng gieo ươm để huấn luyện cây con thích nghi với môi trường tự nhiên.
- Đảo bầu và phân loại cây: Sau khi cấy cây được 5 đến 6 tháng, tiến hành đảo bầu vào ngày râm mát, xén rễ kết hợp phân loại cây con để lọc ra các cây sinh trưởng tốt để riêng một khu và cây xấu để riêng một khu tiện cho việc chăm sóc. Tiến hành đảo bầu lần thứ 2 trước khi xuất vườn khoảng 1 tháng.
l) Phòng trừ sâu, bệnh hại:
Thường xuyên kiểm tra tình hình sâu, bệnh để có biện pháp phòng trừ kịp thời. Khi phát hiện thấy có sâu, bệnh thì áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp để trừ sâu bệnh, nếu sử dụng thuốc hóa học thì phải dùng các loại thuốc được phép sử dụng theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
m) Tiêu chuẩn cây con xuất vườn:
Cây giống Gụ lau đủ tiêu chuẩn xuất vườn để trồng rừng cần phải đạt được các tiêu chuẩn sau:
Tuổi cây con: ít nhất 12 tháng tuổi kể từ khi gieo hạt. Đường kính cổ rễ từ 0,6 cm trở lên.
Chiều cao vút ngọn: từ 60 cm trở lên.
Cây sinh trưởng tốt, không có biểu hiện bị sâu bệnh hại, không bị cụt ngọn, vỡ bầu.
4.2. Phạm vi ứng dụng
Tiến bộ kỹ thuật nhân giống bằng hạt cây Gụ lau được áp dụng tại các cơ sở sản xuất giống là các hộ gia đình hoặc tổ chức, cá nhân ở các tỉnh vùng duyên hải miền Trung và những nơi có điều kiện sinh thái tương tự.
4.3. Điều kiện và địa điểm ứng dụng
Các tổ chức, cá nhân nhân giống bằng hạt cây Gụ lau cần có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, nguồn giống và nhân lực, cụ thể như sau:
- Cơ sở hạ tầng: Vườn ươm đáp ứng yêu cầu theo TCVN 13359:2021 – Giống cây lâm nghiệp – Vườn ươm cây lâm nghiệp.
- Nguồn giống: Có cây trội đã được công nhận hoặc nguồn hạt được thu hái từ cây mẹ đảm bảo chất lượng.
- Nhân lực: Có nhân viên kỹ thuật thành thạo về kỹ thuật nhân giống gieo ươm từ hạt và chăm sóc cây giống tại vườn ươm.
- Vật tư: Đảm bảo đủ chủng loại và khối lượng đối với các loại vật tư theo quy trình kỹ thuật nhân giống bằng hạt cây Gụ lau nêu trên.
Tin mới nhất
- Lễ công bố Quyết định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (VAFS)
- Công nhận giống cây trồng lâm nghiệp cho 07 giống Trôm, gồm: 02 xuất xứ Bình Thuận và Ninh Thuận; 05 gia đình: BT01, BT05, BT07, NT18 và NT26
- Tiến bộ kỹ thuật “Quy trình kỹ thuật nhân giống hữu tính Xoan mộc (Toona surenii (Blume) Merr.)”
- Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và phương hướng triển khai nhiệm vụ năm 2026
- Nghiệm thu tổng kết cấp cơ sở nhiệm vụ quỹ gen cấp quốc gia: Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen cây Gụ lau (Sindora tonkinensis A. Chev. ex K. & S. S. Larsen) tại một số tỉnh duyên hải miền Trung.
Các tin khác
- Kiểm tra hiện trường triển khai thực hiện một số nhiệm vụ KHCN do Viện chủ trì tại tỉnh Quảng Trị
- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thông báo việc xét bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2025
- Hội thảo khoa học “Tổng kết, đánh giá công tác bảo tồn nguồn gen giai đoạn 2016-2025 và định hướng giai đoạn 2026-2030 lĩnh vực lâm nghiệp và nông nghiệp”
- Chuyển giao kết quả thí điểm Cấp mã số vùng trồng rừng nguyên liệu tại Tuyên Quang
- Nghiên cứu sinh (NCS) Giang Thị Thanh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Viện




